EVFTA “mở khóa” quy tắc xuất xứ cho dệt mayEVFTA "unlock" the rule of origin for textile
Theo ông Trường, để được hưởng ưu đãi thuế xuất khẩu vào EU 0%, ngành dệt may Việt Nam phải nhanh chóng hoàn thiện những chuỗi cung ứng sản phẩm nội địa. Đặc biệt, trong mỗi chuỗi cung ứng nên tìm được người dẫn dắt, định hướng.
Thưa ông, mọi người nói rất nhiều tới cơ hội và thời điểm của ngành dệt may trong EVFTA đã đến. Như vậy, cơ hội của dệt may đã thực sự bắt đầu từ ngày 1/8?
Thực tế, đây mới là thời điểm để thực hiện lộ trình cho các doanh nghiệp dệt may chuẩn bị các điều kiện cần và đủ. Bởi lẽ, theo cam kết của EVFTA, trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào EU, hàng dệt may sẽ được EU xóa bỏ thuế quan với 77,3% kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm, 22,7% kim ngạch còn lại cũng sẽ được EU xóa bỏ thuế quan sau 7 năm.
Nhìn vào Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực từ ngày 14/1/2019, tỷ lệ tận dụng ưu đãi xuất xứ dệt may trong CPTPP hiện nay mới chỉ đạt 0,03%. Một trong những nguyên nhân chính là chưa đáp ứng quy tắc xuất xứ trong dệt may. Ngành dệt may Việt Nam hiện vẫn nhập khẩu tới 80% vải nguyên liệu từ các nước ngoài hiệp định.
Theo Bộ Công Thương, hiện EU đang là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ 3 của Việt Nam, sau Mỹ và Nhật Bản. 6 tháng qua do ảnh hưởng của đại dịch, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may chỉ đạt 12,8 tỷ USD, riêng thị trường Châu Âu đạt trên 2 tỷ USD. Năm 2019, tổng kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may đạt khoảng 39 tỷ USD và thị trường Châu Âu đạt trên 8 tỷ USD.
Như ông nói, dệt may hiện nay không thể dàn hàng ngang đầu tư để hưởng ưu đãi thuế. Vậy mô hình nào hiện nay đang phát huy lợi thế, thưa ông?
Liên kết theo chuỗi cung ứng sẽ là một đòi hỏi bắt buộc. Một mô hình khá điển hình như Việt Tiến ký hợp tác đầu tư nhà máy vải với Uniqlo, Uniqlo đặt hàng và yêu cầu Việt Tiến làm vải. Như vậy tức là doanh nghiệp sẽ chỉ làm vải nếu có sự thống nhất trong chuỗi cung ứng, còn nếu dàn hàng ngang làm vải, doanh nghiệp sẽ chết.
Đặc biệt, các doanh nghiệp cần lưu ý, không phải trong một chuỗi cung ứng là các thành viên có vai trò, quyền lực như nhau mà có đầu chuỗi, có người định hướng chuỗi. Do đó, trong từng tình huống cụ thể mới có thể quyết định được làm vải chủng loại nào, quy mô nào chứ không phải là đầu tư tự phát.
Như vậy, việc kết nối theo chuỗi cung ứng trong ngành dệt may cũng là một bài toán khó nếu muốn tham gia EVFTA và các hiệp định FTA khác, thưa ông?
Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) có nhiều khách hàng truyền thống từ thị trường Nhật, nhưng dù đã thân thiết họ vẫn đặt thẳng vấn đề: đồng ý mua vải của Việt Nam nhưng phải bán theo giá của Trung Quốc.
Và ngoài những mặt hàng sản lượng lớn đối tác này còn có những mặt hàng li ti đòi hỏi nhà máy vải Việt Nam phải đáp ứng được. Song mặt hàng li ti nhà máy lớn không làm được mà phải thành lập nhà máy khác. Trong khi đó, không doanh nghiệp Việt nào dám liều làm 1 nhà máy chỉ để phục vụ 1 khách hàng mà công suất chỉ chạy khoảng 10%… thì lỗ. Điều này khiến khách hàng chọn Trung Quốc.
Bởi vì, chỉ một doanh nghiệp Trung Quốc đã cung cấp đủ cho yêu cầu của họ. Khi quy mô đã lớn tới cả gần trăm tỷ mét, thì dây chuyền có đủ “thực đơn”, đủ “các món”. Đây là sự hỗ trợ lẫn nhau trong chuỗi sản xuất vải của Trung Quốc.
Ở Việt Nam hiện nay, những người làm vải mới chỉ làm 3 – 4 loại: vải bò, kaki, vải may áo (chủ yếu 1 màu: trắng, xanh), 1 số nhỏ nhuộm sợi và dệt – chủ yếu phục vụ nội địa, không có sự hỗ trợ lẫn nhau. Ngay trong nghề dệt kim, ai cũng thích dệt vải để làm áo nhưng không ai thích làm cổ, bo tay. Vì thế để nhận được đơn vải, buộc họ phải mở xưởng để may bo tay, khi hạch toán ra thì lỗ.
– Ngoảnh đi, ngoảnh lại vẫn là vấn đề cạnh tranh với sản phẩm từ Trung Quốc. Cơ hội để dệt may Việt Nam vượt lên khẳng định vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu đến đâu, thưa ông?
Nếu muốn khẳng định được vị trí, chúng ta phải chủ động được về vải. Chúng ta có thể bắt đầu từ khoảng 15 tỷ mét vải mỗi năm để chiếm tỷ trọng 12% tổng lượng vải tiêu thụ toàn cầu. Khi làm đến ngưỡng 15 tỷ mét tức là chúng ta đã trở thành một thế lực để cạnh tranh, còn chỉ làm 5 tỷ mét hay 3 tỷ mét đặt cạnh Trung Quốc có quy mô sản xuất 60-75 tỷ mét vải thì chưa, họ có thể tiêu diệt mình một cách dễ dàng.
Với số lượng này, ngành dệt may cần phải bỏ vào đó khoảng 60 tỷ USD (khoảng 4 USD/m) chưa nói đến đầu tư công nghệ cao cấp 4.0 như nhuộm khô. Song 60 tỷ USD vốn đầu tư so với nền kinh tế của nước ta thì là quá lớn.
Một điểm quan trọng nữa, chi phí đầu tư ở Việt Nam lớn nhất thế giới, cụ thể là chi phí tài chính. Hiện nay tất cả các hãng bán máy trên thế giới trả nợ theo chương trình ngân hàng phát triển của họ chỉ lấy 2,4% lãi suất/năm bằng euro, trong khi Việt Nam từ 2019 kể cả vay đầu tư nhập thiết bị cũng quy ra tiền Việt lãi suất từ 10,5-11%/năm.
Do đó, ngành dệt may Việt Nam cần nhanh chóng dùng tích lũy có được trong quá khứ để chuyển đổi số. Nếu chúng ta không chuyển đổi, chúng ta sẽ bị lạc hậu.
Một giải pháp nữa, chúng ta cần bắt buộc đi vào thị trường ngách cả về nguyên liệu. Khả năng làm những nhà máy vải tiêu chuẩn rủi ro cao hơn, nên cần đi vào thị trường ngách phục vụ cho khách hàng định hướng chuỗi của mình và có cam kết (như trường hợp Việt Tiến hợp tác với Uniqlo). Có nghĩa, chúng ta không đi vào những sản phẩm cạnh tranh quá lớn, rào cản quá cao. Đặc biệt, chúng ta phải luôn quan tâm tới thị phần tiềm năng có thật, tức là ở khu vực CPTPP, EVFTA… là quy mô bao nhiêu, khách hàng nào muốn mua…
– Xin cảm ơn ông!
Ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam:
Tính riêng nhập khẩu vải và nguyên phụ liệu ngành dệt may đang chiếm khoảng 40% giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc, trong đó, 70% vải nhập khẩu phục vụ cho mục đích may xuất khẩu.
Do đó, yêu cầu cấp thiết là ngành dệt may cần chuyển mình để tránh phụ thuộc vào một nguồn cung duy nhất. Dệt may cần phải tìm cách phân tán thị trường nguyên phụ liệu sang nước khác, chẳng hạn như Ấn Độ.
Mặt khác, việc đổi mới công nghệ không kỳ vọng vào thay thế hoàn toàn công nghệ nhập từ Trung Quốc mà cần tính tới việc đổi mới để đưa ra các sản phẩm sợi có hàm lượng tri thức của người Việt nhiều hơn, như các loại sợi từ đậu nành, sợi từ tre, sợi sen… cho đến các thiết kế của người Việt để làm gia tăng giá trị cho ngành dệt may.
Ông Vũ Huy Đông – Chủ tịch HĐQT, TGĐ Công ty CP DamSan:
Thực tế, nguồn cung nguyên liệu đầu vào tại Việt Nam có nhưng không nhiều và chưa đa dạng, do các tỉnh thành chưa tạo cơ chế chính sách quỹ đất cho vùng nguyên liệu, dệt, sợi nhất là tẩy nhuộm. Mặt khác, một số doanh nghiệp dệt may Việt Nam làm gia công phải nhập nguyên liệu đầu vào theo “chỉ định” nên cũng ảnh hưởng.
Để tạo chuỗi liên kết tự chủ giúp ngành dệt may tận dụng những ưu đãi về Hiệp định EVFTA, Nhà nước cần tạo cơ chế chính sách chỉ đạo các địa phương tạo quỹ đất cho vùng sản xuất nguyên liệu, tẩy nhuộm cho ngành dệt may.
According to Mr. Truong, in order to enjoy export tax incentives to the EU 0%, Vietnam's textile and garment industry must quickly complete the domestic product supply chains. In particular, in each supply chain, you should find the lead and orientation.
Sir, people talk a lot about the opportunity and time of the textile industry in EVFTA. So, the opportunity of textiles has actually started on August 1?
In fact, this is the time to implement the roadmap for textile enterprises to prepare the necessary and sufficient conditions. Because, according to EVFTA's commitment, among Vietnam's key export items to the EU, the textiles will be eliminated tariffs by the EU with 77.3% of export turnover for 5 years, 22.7% of the remaining turnover will be eliminated by the EU after 7 years.
Looking at the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans -Pacific (CPTPP), it takes effect from January 14, 2019, the rate of taking advantage of the textile origin in CPTPP is currently only 0.03%. One of the main reasons is not to meet the rules of origin in textiles. Vietnam's textile and garment industry still imports up to 80% of raw fabrics from foreign countries.
According to the Ministry of Industry and Trade, the EU is currently the third largest import market of Vietnam, after the US and Japan. In the past 6 months, due to the influence of the pandemic, the export turnover of textile and apparel has only reached 12.8 billion USD, especially the European market reached over 2 billion USD. In 2019, the total export turnover of the textile industry reached about 39 billion USD and the European market reached over 8 billion USD.
As he said, textile and apparel can not invest in horizontal investment to enjoy tax incentives. So which model is currently promoting the advantage, sir?
The supply chain link will be a mandatory requirement. A fairly typical model such as Viet Tien Ky Cooperation Investment Factory with Uniqlo, Uniqlo ordered and asked Viet Tien to make fabric. This means that the business will only make fabric if there is a unity in the supply chain, and if the line is horizontal, the business will die.
In particular, businesses need to note, not in a supply chain that members have the same role and power but have the top of the chain, some people oriented the chain. Therefore, in each specific situation, what kind of cloth can be decided to make fabrics, not the scale, not spontaneous investment.
So, the connection according to the supply chain in the textile industry is also a difficult problem if you want to join EVFTA and other FTA agreements, sir?
Vietnam Textile and Garment Group (Vinatex) has many traditional customers from the Japanese market, but even though they are close, they still put the problem straight: agree to buy Vietnamese fabric but have to sell at Chinese prices.
And in addition to the large output products, there are tiny items that require Vietnam Fabric Factory to meet. But the large factory item could not be done but had to set up another factory. Meanwhile, no Vietnamese businesses dare to risk making a factory just to serve 1 customer but the capacity only runs about 10%... the loss. This makes customers choose China.
Because, only a Chinese business has provided their requirements. When the scale is nearly hundred billion meters, the necklace has enough "menu", enough "dishes". This is the mutual support in China's fabric production chain.
In Vietnam today, new fabric people only make 3-4 types: cow fabric, khaki, sewing fabric (mainly 1 color: white, blue), 1 small dyed fibers and weaving - mainly serving inland, without mutual support. Even in a knitting job, everyone likes to weave cloth to make a shirt but no one likes to make a neck and a hand. So to receive the clothing application, forcing them to open the workshop to sew hands, when accounting, the loss.
- Turning away, turning back is still a matter of competition with products from China. The opportunity for Vietnamese textile to overcome the position in the global supply chain, sir?
If we want to confirm the position, we must take the initiative to return to the fabric. We can start from about 15 billion meters of fabric per year to account for 12% of the total global fabric. When working to 15 billion meters, we have become a force to compete, and only 5 billion meters or 3 billion meters next to China with a production scale of 60-75 billion meters of fabric, they can destroy themselves easily.
With this number, the textile industry needs to be put in about 60 billion USD (about 4 USD/m) not to mention investment in high -class technology 4.0 such as dry dye. But $ 60 billion in investment capital compared to the economy of our country is too big.
Another important point, the largest investment cost in Vietnam, namely financial expenses. Currently, all machinery companies in the world repay their debt under their development bank program only takes 2.4% of interest/year in Euro, while Vietnam from 2019, including investment in importing equipment, also has a Vietnamese money from 10.5-11%/year.
Therefore, Vietnam's textile and apparel industry needs to be quickly used in the past to change numbers. If we do not convert, we will be outdated.
Another solution, we need to be forced to enter the market